Niam să oh mi

Đang kết nối với già làng...

Cộng đồng nói tiếng K'Ho

Cộng đồng nói tiếng K'Ho

Chia sẻ
Đọc

Tóm tắt

Bài viết này khảo sát hệ thống tộc danh và tên phương ngữ liên quan đến các cộng đồng nói tiếng Kơho/Srê ở Nam Tây Nguyên, đặc biệt tại Lâm Đồng và các vùng lân cận. Khác với bản thảo trước đây, bài viết không sử dụng ma trận ước lượng, thuật toán so sánh hay phần trăm khác biệt tự dựng. Vấn đề được đặt lại bằng cách đọc chéo ba nhóm tư liệu: từ điển và luật tục do các học giả, linh mục và nhà dân tộc học Pháp ghi chép giữa thế kỷ XX; nghiên cứu ngôn ngữ và chính sách cao nguyên của các học giả Mỹ trong thời kỳ chiến tranh; và các công trình sau chiến tranh dựa trên điền dã hoặc tổng hợp ngữ học lịch sử. Bài viết cho thấy Kơho không phải là một đơn vị tên gọi đơn tuyến, mà là một trường định danh nhiều tầng, trong đó tên hành chính, tên tự gọi, tên do bên ngoài đặt, tên bon/làng và tên phương ngữ liên tục chồng lấp. Cách đọc đúng vì thế không phải là tính ra khoảng cách phần trăm giữa Sre, Cil, Lach, Nop hay Tring, mà là xác định từng tên gọi xuất hiện trong tư liệu nào, do ai dùng, trong hoàn cảnh chính trị–xã hội nào và với mức chứng cứ ra sao.

Từ khóa: Kơho, K’Ho, Cơ Ho, Srê, Sre, Cil, Chil, Lach, Lat, Nop, Tring, South Bahnaric, Austroasiatic, Montagnards, Lâm Đồng, luật tục, Dournes, Hickey, Smalley, Manley, Olsen.

1. Dẫn nhập: viết lại vấn đề tộc danh Kơho bằng dữ liệu có kiểm chứng

Trong nghiên cứu dân tộc học và ngôn ngữ học về Tây Nguyên, tên gọi thường bị biến thành một nhãn cố định: Cơ Ho trong hành chính Việt Nam, Koho trong một số cơ sở dữ liệu tiếng Anh, Kơho trong cách ghi gần âm, Srê/Sre trong mô tả phương ngữ, Cil/Chil, Lach/Lat, Nop, Tring hay Kơyon trong tư liệu địa phương. Cách gom các tên này thành một danh sách không sai, nhưng chưa đủ. Một tên gọi chỉ có giá trị học thuật khi biết nó xuất hiện trong bộ tư liệu nào, ai ghi nhận, ở thời điểm nào, và nó chỉ cộng đồng, phương ngữ, vùng cư trú, hay quan hệ xã hội.

Vì vậy, bài viết này thay đổi trọng tâm. Thay vì dựng một sơ đồ phân cấp rồi gán tỷ lệ khác biệt cho từng cặp tên, bài viết đọc Kơho/Srê như một hiện tượng lịch sử của phân loại. Những gì có số liệu được trích dẫn bằng chú thích; những gì chỉ là giả thuyết được ghi rõ là giả thuyết; những gì chưa có bảng từ, điều tra dân số hoặc khảo sát điền dã độc lập thì không biến thành con số. Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng đối với tư liệu thời chiến, vì nhiều khảo cứu Mỹ và Pháp vừa có giá trị ghi chép rất cao, vừa chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh truyền giáo, quản trị thuộc địa, chính sách phát triển hay nhu cầu hiểu biết quân sự.

Nguồn nền ngữ pháp học hiện nay về Kơho-Srê là luận án mô tả của Neil H. Olsen, vốn xem Srê là biến thể được mô tả đầy đủ nhất trong khối Kơho và đặt Kơho trong bối cảnh các ngôn ngữ South Bahnaric thuộc Austroasiatic.1 Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào ngữ pháp học hiện đại, bài viết sẽ bỏ qua lớp tư liệu Pháp–Bắc Mỹ trong thời chiến: từ điển Srê–Pháp của Jacques Dournes năm 1950, tập luật tục Nri, từ điển Pháp–Kơho của Drouin và K’Năi năm 1962, các công trình của Smalley và Manley, cùng các báo cáo RAND của Gerald C. Hickey.2

2. Cơ sở tư liệu: không dùng ma trận, chỉ dùng nguồn có thể kiểm tra

Bài viết sử dụng bốn nhóm tư liệu. Nhóm thứ nhất là tư liệu Pháp và Pháp–Đông Dương, nhất là Jacques Dournes. Dournes sống và làm việc lâu năm ở miền Nam Việt Nam, bắt đầu từ khu vực Srê/Kơho trước khi mở rộng sang Jarai; các ghi chép của ông về từ vựng, luật tục và xã hội Srê có giá trị vì được thực hiện trong một giai đoạn mà cấu trúc bon/làng, luật tục và quan hệ tộc danh còn ít bị chuẩn hóa bởi hệ thống phân loại hậu chiến.3

Nhóm thứ hai là tư liệu truyền giáo và từ điển học, gồm Bochet–Dournes và Drouin–K’Năi. Các nguồn này không phải lúc nào cũng theo chuẩn ngôn ngữ học hiện đại, nhưng chúng có giá trị vì ghi chép từ vựng, cách phát âm và cách dùng địa phương. Khi dùng chúng, cần phân biệt dữ liệu ngôn ngữ với diễn giải truyền giáo; không nên lấy lời giải thích văn hóa của nhà truyền giáo làm kết luận xã hội học nếu không có đối chứng.

Nhóm thứ ba là các nghiên cứu Mỹ trong bối cảnh chiến tranh và chính sách cao nguyên: Smalley, Manley, Hickey, LeBar–Hickey–Musgrave và các công trình liên quan. Đây là nguồn không thể bỏ qua vì đã ghi nhận cấu trúc xã hội, phân bố cư trú và tình trạng chính trị của nhiều nhóm Montagnard trong thời kỳ Việt Nam Cộng hòa và chiến tranh Việt Nam. Nhưng chúng phải được đọc với phê phán nguồn: mục tiêu chính sách, truyền giáo, quân sự và phát triển có thể tác động đến cách gọi tên và cách gom nhóm.4

Nhóm thứ tư là các tổng hợp sau chiến tranh và sau đổi mới: Olsen, Sidwell, Glottolog và nghiên cứu điền dã của Pham Thanh Thoi về ranh giới Cil–K’Ho/Srê ở Ninh Gia. Nhóm này giúp kiểm tra lại những phân loại cũ bằng ngôn ngữ học lịch sử và dân tộc học địa phương, đồng thời cho thấy danh xưng chính thức không luôn trùng với căn cước tự nhận hay ký ức bon/làng.5

Bảng 1. Các bộ tư liệu quốc tế chính dùng trong bài

Nguồn

Bối cảnh/quốc gia học thuật

Loại dữ liệu chính

Cách dùng trong bài

Jacques Dournes, 1950–1951

Pháp/Đông Dương; điền dã và truyền giáo

Từ điển Srê–Pháp, luật tục Nri, thuật ngữ xã hội

Dùng để xác định lớp từ vựng, luật tục, tên gọi Srê/Kơho trong tư liệu giữa thế kỷ XX

Bochet & Dournes, 1953

Pháp; từ điển học đa ngữ

Việt–Kơho–Raglai–Pháp

Dùng như tư liệu đối chiếu từ vựng, không dùng để suy luận dân tộc học độc lập

Drouin & K’Năi, 1962

Đà Lạt; khối tư liệu truyền giáo Pháp–Canada và cộng tác viên bản địa

Từ điển Pháp–Köho bốn tập

Dùng như nguồn từ vựng lớn thời chiến; không dùng để tính phần trăm phương ngữ

William A. Smalley, 1954

Mỹ; ngữ âm học và chính tả học

Âm vị, âm tiết, vấn đề chính tả Srê

Dùng để kiểm tra mô tả âm vị thay vì suy diễn biến âm

Gerald C. Hickey/RAND, 1964–1967

Mỹ; nghiên cứu chính sách thời chiến

Dân tộc học, xã hội, chính trị, phát triển

Dùng có phê phán nguồn vì gắn với hoàn cảnh chiến tranh và quản trị

Timothy M. Manley, 1972

Mỹ; University of Hawaiʻi

Cấu trúc Srê, phương ngữ Srê

Dùng để đối chiếu mô tả ngữ pháp và các tiểu phương ngữ Srê

Neil H. Olsen, 2014–2020

Mỹ; ngữ pháp học và dân tộc–ngôn ngữ học

Ngữ pháp Srê, phân loại South Bahnaric, luật tục Kơho-Srê

Dùng làm khung ngôn ngữ học hiện đại và đối chiếu với tư liệu cũ

Pham Thanh Thoi, 2012

Điền dã tại Lâm Đồng; công bố bằng tiếng Anh

Ranh giới Cil–K’Ho/Srê, di cư cưỡng bức, hôn nhân, tôn giáo

Dùng để kiểm tra cách tên gọi vận hành trong đời sống xã hội cụ thể

3. Vị trí ngôn ngữ học của Kơho/Srê trong South Bahnaric

Trong ngôn ngữ học lịch sử, Kơho/Srê được đặt trong nhóm South Bahnaric của ngữ hệ Austroasiatic. Cách gọi cũ Mon-Khmer vẫn xuất hiện trong nhiều tài liệu, nhưng trong các tổng hợp hiện đại, Austroasiatic là tên bao quát hơn cho toàn ngữ hệ. Việc xác định Kơho thuộc South Bahnaric cho phép so sánh nó với Chrau, Mnong, Stieng và các ngôn ngữ lân cận, nhưng không tự động biến mọi tên địa phương thành một cấp bậc phương ngữ có thể tính tỷ lệ.6

Một điểm then chốt là bản thân tên Kơho cũng có lịch sử. Olsen cho biết Kơho rất có thể là một ngoại danh gắn với truyền thống gọi tên của Chăm, sau đó được dùng cho nhiều cộng đồng nói các biến thể có khả năng thông hiểu lẫn nhau ở mức nhất định. Cách gọi này vì thế không thể được hiểu đơn giản như một tên tự gọi cổ xưa, càng không thể dùng như bằng chứng rằng mọi nhóm mang tên Sre, Cil, Lat, Nop hay Tring đều có cùng một lịch sử xã hội.7

Dữ liệu so sánh có thể dùng một cách thận trọng là nhận định rằng Chrau, Kơho, Mnong và Stieng chia sẻ khoảng sáu mươi phần trăm từ vựng cơ bản đồng nguyên trong phạm vi South Bahnaric. Đây là con số thuộc cấp so sánh liên ngôn ngữ, không phải con số để suy ra Sre khác Lach bao nhiêu phần trăm hoặc Cil khác Nop bao nhiêu phần trăm. Muốn có các tỷ lệ ấy cần bảng từ chuẩn hóa, phương pháp đếm đồng nguyên rõ ràng, số lượng người nói đủ đại diện và tiêu chuẩn phân biệt vay mượn–đồng nguyên; các điều kiện này chưa được công bố đầy đủ cho toàn bộ các tên địa phương Kơho trong tư liệu hiện có.8

Glottolog hiện ghi nhận Koho với mã ISO 639-3 kpm và liệt kê nhiều dạng tên thay thế như Koho, Sre, Caho, Coho, Kohor, Kơho/Kɤho và Srê. Danh mục như vậy có ích cho tra cứu, nhưng nó không thay thế cho phân tích lịch sử xã hội của từng tên gọi. Trong một bài viết học thuật, cơ sở dữ liệu ngôn ngữ chỉ nên là công cụ nhận diện nguồn và nhãn, không phải bằng chứng cuối cùng về ranh giới dân tộc.9

4. Tên gọi và phương ngữ: từ danh mục sang lịch sử sử dụng

Các danh xưng K’Ho, Cơ Ho, Kơho và Koho chủ yếu khác nhau ở môi trường chữ viết. Cơ Ho là dạng hành chính Việt hóa; Koho thường gặp trong tài liệu tiếng Anh; Kơho gần với cách ghi âm học; K’Ho là dạng thông dụng trong nhiều văn bản Việt ngữ. Những khác biệt chính tả ấy không tự tạo ra khác biệt cộng đồng. Vấn đề học thuật nằm ở tầng bên dưới: Sre/Srê, Cil/Chil, Lach/Lat, Nop, Tring, Kơyon/Co-Don, Pru, Rion, Talà và những tên địa phương khác được dùng như thế nào trong từng tư liệu.

Trong tổng hợp của Olsen, danh sách phương ngữ hoặc tên địa phương liên quan đến Kơho gồm ít nhất Chil/Cil/Til, Kalop, Kơyon/Kodu/Co-Don, Làc/Lat/Lach, Mà, Nồp, Pru, Ryông Tô/Rion, Sop, Sre, Talà và Tring. Chính Olsen cũng nhấn mạnh rằng danh sách này không nên hiểu là hoàn chỉnh hoặc dứt khoát, vì tài liệu cũ ghi tên rất không đồng nhất, còn các cộng đồng địa phương có thể tự phân biệt bằng ký ức cư trú, hôn nhân, kinh tế và truyền thống bon/làng.10

Trường hợp Mạ cho thấy ranh giới ngôn ngữ và ranh giới dân tộc không nhất thiết trùng nhau. Olsen ghi nhận Mạ có thể được hiểu là gần Kơho về ngôn ngữ, nhưng nhiều nhà dân tộc học và chính cộng đồng Mạ xem họ là một dân tộc riêng. Đây là một ví dụ quan trọng: khả năng thông hiểu hoặc gần gũi từ vựng không đủ để kết luận căn cước dân tộc; ngược lại, tự nhận dân tộc cũng không xóa bỏ quan hệ ngôn ngữ học.11

Sre giữ vị trí nổi bật vì là biến thể được mô tả kỹ nhất. Theo Olsen, Sre trở thành một phương ngữ có uy tín một phần vì vùng cư trú của nó phát triển mạnh trong thời Pháp, nằm trên trục giao thông quan trọng như Quốc lộ 20, đồng thời là một trong những nhóm Kơho được tiếp xúc sớm với Kitô giáo qua các nhà truyền giáo Pháp rồi Mỹ. Uy tín phương ngữ vì thế không chỉ là vấn đề ngôn ngữ; nó gắn với giao thông, truyền giáo, thương mại, truyền thông và hành chính.12

5. Những số liệu có thể dùng và những số liệu không nên bịa

Bài viết này chỉ sử dụng số liệu đã xuất hiện trong công trình được công bố hoặc được trích dẫn rõ. Các con số ấy không cùng loại: có con số về dân số, có con số về số trang từ điển, có con số về hộ gia đình, đất ruộng, tín hữu, hoặc tỷ lệ đồng nguyên ở cấp liên ngôn ngữ. Vì vậy, chúng không được đặt chung vào một ma trận. Bảng dưới đây không phải ma trận so sánh, mà là bảng kiểm nguồn: số liệu nào, lấy từ đâu, dùng cho kết luận nào.

Bảng 2. Số liệu thực chứng có thể dùng trong bài

Số liệu/ghi nhận

Nguồn

Ý nghĩa học thuật

Giới hạn

Từ điển Srê–Pháp của Dournes gồm phần dẫn nhập XXX trang, 269 trang từ điển và phụ lục thuật ngữ truyền thuyết.

Dournes 1950

Chứng tỏ có một khối ghi chép từ vựng lớn về Srê giữa thế kỷ XX.

Không phải điều tra dân số hay điều tra phương ngữ định lượng.

Drouin & K’Năi biên soạn từ điển Pháp–Köho bốn tập tại Đà Lạt năm 1962.

Drouin & K’Năi 1962

Nguồn từ vựng quan trọng của thời chiến và truyền giáo.

Chưa đủ để tính khoảng cách giữa các nhóm nếu không số hóa và đối chiếu bộ từ chuẩn.

Chrau, Kơho, Mnong và Stieng chia sẻ khoảng 60% từ vựng cơ bản đồng nguyên.

Olsen/Sidwell/Thomas

Số liệu cấp South Bahnaric, dùng cho phân loại liên ngôn ngữ.

Không áp dụng cho cặp Sre–Lach hay Cil–Nop.

Khoảng 20% từ vựng Srê Olsen khảo sát có quan hệ đồng nguyên với Chamic.

Olsen 2014

Cho thấy tiếp xúc Chamic sâu trong một số trường nghĩa.

Không có nghĩa 20% dân cư là Chăm hoặc 20% văn hóa là Chăm.

Kơho được Olsen mô tả là hơn 207.000 người ở Lâm Đồng trong luận án 2014; bài 2020 nêu 251.122 người Kơho, tính cả Mạ, trong tổng điều tra 2019, và hơn 2.000 người ở North Carolina theo U.S. Census 2000.

Olsen 2014; Olsen 2020

Cần phân biệt dân số tộc danh với số người nói hiện hành.

Olsen 2020 nhấn mạnh chưa có số liệu tương đương về người nói hiện nay.

Trước 1960, K’Ho/Srê ở Đức Trọng và Di Linh gắn với ruộng nước; Cil ở vùng cao Lam Viên/Lạc Dương gắn với canh tác rẫy du canh.

Pham Thanh Thoi 2012

Cho thấy tên gọi gắn với sinh thái cư trú và kinh tế.

Là kết quả nghiên cứu địa phương, không nên khái quát cho toàn bộ Kơho.

Ở Đăng Sròn, trước 1964 có khoảng mười hộ K’Ho; khoảng 1960 có năm hộ Cil chuyển đến; năm 1964 có bốn hộ từ Đăng Ja và tám hộ từ N’Hanh chuyển đến.

Pham Thanh Thoi 2012

Dữ liệu vi mô về di cư, chiến tranh và tái định cư.

Không phải thống kê toàn Lâm Đồng.

Đông Lạc có 25 hộ Cil từ Brah Yang; sau di dời, mỗi hộ được cấp khoảng 2.000 m² đất; sau 1975 có gần 40 ha ruộng nước trong mô hình đội sản xuất.

Pham Thanh Thoi 2012

Cho thấy can thiệp hành chính biến đổi kinh tế và ranh giới cộng đồng.

Cần đọc theo địa bàn Ninh Gia.

Đến tháng 1 năm 2011, nhánh Tin Lành địa phương có khoảng 700 tín hữu.

Pham Thanh Thoi 2012

Cho thấy tôn giáo là một nhân tố tái tạo ranh giới xã hội.

Không đại diện cho toàn bộ Kơho.

Từ bảng này có thể rút ra một nguyên tắc: số liệu có thật không tự động cùng cấp phân tích. Dữ liệu 60% đồng nguyên South Bahnaric không thể đặt cạnh dữ liệu 25 hộ Cil hay 700 tín hữu để tính khoảng cách văn hóa. Dữ liệu dân số năm 2019 cũng không phải số người nói tiếng Kơho. Một bài học thuật chân chính phải giữ ranh giới giữa các loại số liệu.

6. Tư liệu Pháp và Pháp–Đông Dương: Dournes, Bochet và lớp ghi chép Srê

Jacques Dournes là nguồn Pháp quan trọng nhất cho Kơho/Srê giữa thế kỷ XX. Từ điển Srê–Pháp năm 1950 của ông không chỉ là bảng từ; nó bao gồm phần dẫn nhập về hệ thống ghi âm, bản đồ, các mục từ và phụ lục thuật ngữ liên quan đến truyền thuyết. Bochet và Dournes sau đó xuất bản từ vựng đa ngữ Việt–Köho–Röglai–Pháp, qua đó đặt Kơho/Srê vào mạng tiếp xúc rộng hơn của cao nguyên và duyên hải Nam Trung Bộ.13

Giá trị của Dournes nằm ở chỗ ông ghi chép ngôn ngữ và luật tục khi nhiều thực hành xã hội còn vận hành trong hệ thống bon/làng. Tập Nri ghi lại luật tục Srê, được Olsen phân tích lại trong bài nghiên cứu 2020. Nri không phải là bộ luật nhà nước theo nghĩa hiện đại, mà là tập hợp phán quyết, công thức xử kiện, quy tắc bồi thường, hôn nhân, tài sản, vật nuôi và đất đai. Do đó, nó đặc biệt hữu ích để hiểu cách cộng đồng Srê hình dung về trách nhiệm, bằng chứng, quan hệ người–đất và trật tự xã hội.14

Tuy nhiên, tư liệu Pháp cần được đọc như tư liệu lịch sử, không phải lời phán quyết cuối cùng. Dournes có ưu thế về điền dã và từ vựng, nhưng môi trường tri thức của ông là truyền giáo và dân tộc học thuộc địa muộn. Khi ông gọi tên một nhóm hoặc mô tả quan hệ giữa Srê và Cil, người đọc ngày nay phải hỏi: đó là tự nhận của cộng đồng, cách gọi của láng giềng, cách hiểu của người Pháp, hay một cấu trúc xã hội được nhìn qua lăng kính truyền giáo?

7. Tư liệu Bắc Mỹ thời chiến: Smalley, Manley, Hickey và vấn đề đọc phê phán

Các công trình Mỹ giữa thập niên 1950–1970 giúp bổ sung một lớp dữ liệu khác: âm vị học, chính tả học, cấu trúc ngữ pháp, chính sách cao nguyên và xã hội Montagnard trong chiến tranh. Smalley nghiên cứu âm vị và vấn đề chuẩn bị chính tả Srê; Manley mô tả cấu trúc Srê; Hickey và RAND khảo sát các nhóm cao nguyên trong quan hệ với chính quyền Sài Gòn, phát triển xã hội và chiến tranh.15

Tư liệu Hickey có giá trị vì được viết gần thời điểm chiến tranh đang diễn ra, khi các chương trình ấp chiến lược, dồn dân, phát triển cao nguyên và xung đột chính trị làm thay đổi sâu sắc cấu trúc cư trú. Nhưng cũng chính vì vậy, Hickey không thể được đọc như một nhà dân tộc học đứng ngoài lịch sử. Các báo cáo RAND được soạn trong bối cảnh nhu cầu hiểu biết chính sách và chiến lược của Mỹ; điều này không làm mất giá trị tư liệu, nhưng buộc người dùng phải phân biệt dữ kiện quan sát với khung diễn giải chính sách.

Manley và Smalley đặc biệt hữu ích để tránh lối viết tùy tiện về biến âm. Nếu muốn nói Srê có phụ âm, nguyên âm, âm tiết hay tiểu phương ngữ như thế nào, phải dựa vào mô tả âm vị hoặc mô tả cấu trúc đã công bố. Không thể tự dựng các hàng như k-/kh-/h- hay r-/l-/d- rồi xem đó là quy luật phương ngữ Kơho nếu không chứng minh bằng danh sách từ, người nói, địa bàn và nguồn ghi âm.

8. Ranh giới Cil–K’Ho/Srê trong nghiên cứu điền dã: bài học từ Ninh Gia

Nghiên cứu của Pham Thanh Thoi tại xã Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng là một đối trọng quan trọng với các phân loại rộng. Pham cho thấy Cil và K’Ho/Srê không chỉ là hai nhãn trong danh mục dân tộc học; chúng là hai trường ký ức, cư trú, kinh tế và hôn nhân được thương lượng trong đời sống địa phương. Theo Pham, danh sách 53 dân tộc thiểu số được nhà nước công bố từ năm 1979 không nhất thiết trùng với cách người dân địa phương tự phân biệt hoặc được người khác phân biệt trong lịch sử.16

Ở cấp kinh tế–sinh thái, Pham ghi nhận trước 1960 K’Ho/Srê ở Đức Trọng và Di Linh gắn với ruộng nước, trong khi Cil ở vùng cao Lam Viên/Lạc Dương gắn với canh tác rẫy du canh. Sự khác biệt này không nên bị đọc như cấp bậc văn minh; nó là kết quả của địa hình, sinh thái, lịch sử cư trú và quan hệ với nhà nước. Tuy nhiên, chính sự khác biệt ấy đã góp phần tạo ra ranh giới xã hội giữa các nhóm.17

Các biến động chiến tranh làm ranh giới này vừa cứng lại vừa thay đổi. Pham ghi nhận các chính sách ấp chiến lược và di dời trong thập niên 1960 đã đưa những hộ Cil và K’Ho/Srê vào cùng một không gian cư trú mới. Ở Đăng Sròn, trước 1964 có khoảng mười hộ K’Ho; khoảng 1960 có năm hộ Cil chuyển đến; năm 1964 có thêm bốn hộ từ Đăng Ja và tám hộ từ N’Hanh chuyển đến. Những con số vi mô này quan trọng hơn mọi ma trận, vì chúng cho thấy quá trình tên gọi trở thành quan hệ xã hội cụ thể.18

Pham cũng chỉ ra rằng trong giai đoạn 1960–1968 hầu như không có hôn nhân giữa Cil và K’Ho/Srê ở địa bàn nghiên cứu, chứng tỏ ranh giới xã hội vẫn rất rõ. Đến các giai đoạn sau, khi cùng sống trong khu định cư, tham gia sản xuất, chịu quản lý hành chính và chịu tác động của Tin Lành, quan hệ giữa hai nhóm được thương lượng lại. Ở đây, tôn giáo không chỉ là niềm tin cá nhân; nó có thể trở thành cơ chế tái tổ chức cộng đồng, làm mờ hoặc làm sắc lại ranh giới tộc danh.19

Những số liệu như 25 hộ Cil từ Brah Yang, mỗi hộ được cấp khoảng 2.000 m² đất, gần 40 ha ruộng nước sau 1975, hoặc khoảng 700 tín hữu Tin Lành năm 2011 không phải dữ liệu phụ. Chúng chính là dữ liệu thực chứng để hiểu tộc danh. Một người có thể mang tên hành chính Cơ Ho, tự nhận ký ức Cil, sống trong không gian K’Ho/Srê, tham gia một cộng đồng tôn giáo liên nhóm và dùng tiếng Việt trong hành chính. Tộc danh vì thế là một quá trình xã hội, không phải một ô cố định trong bảng phân loại.20

9. Từ vựng, tiếp xúc Chamic và giới hạn của so sánh ngôn ngữ

Nếu cần nói về từ vựng Kơho/Srê, số liệu có thể dùng là hai loại. Loại thứ nhất là khối từ điển: Dournes, Bochet–Dournes, Drouin–K’Năi và các tài liệu từ vựng khác. Chúng cho thấy Kơho/Srê đã được ghi chép bằng nhiều truyền thống chữ viết và ngôn ngữ trung gian, chủ yếu Pháp, Việt và tiếng địa phương. Loại thứ hai là tổng hợp ngôn ngữ học hiện đại: Olsen nhận xét khoảng hai mươi phần trăm từ vựng Srê mà ông khảo sát có quan hệ đồng nguyên với các ngôn ngữ Chamic, nhất là trong các lĩnh vực thân tộc, chính trị, nông nghiệp và văn hóa vật chất.21

Nhận định này rất quan trọng, vì nó cho thấy lịch sử tiếp xúc giữa South Bahnaric và Chamic sâu hơn các biên giới dân tộc hiện đại. Nhưng nó không cho phép kết luận rằng Srê là ngôn ngữ Chamic, cũng không cho phép biến tiếp xúc từ vựng thành tỷ lệ bản sắc. Một từ vay có thể đi qua thương mại, hôn nhân, chính trị, nông nghiệp, truyền giáo hoặc quan hệ quyền lực; nguồn gốc từ không đồng nhất với nguồn gốc người.

Về mặt cấu trúc, Kơho/Srê mang nhiều đặc điểm Austroasiatic: cấu trúc âm tiết có tiền âm tiết, cụm phụ âm, hệ thống nguyên âm và đối lập thanh quản/giọng, cùng trật tự câu cơ bản SVO. Những đặc điểm này phải được mô tả bằng ngữ pháp và âm vị học, không bằng bảng biến âm tự nghĩ. Khi có khác biệt phương ngữ, cách xử lý chuẩn là đưa ra danh sách mục từ, nguồn người nói, địa bàn, ghi âm hoặc phiên âm, rồi mới kết luận. Nếu chưa có bộ dữ liệu ấy, lời viết đúng phải là “chưa đủ dữ liệu công bố”, không phải “ước lượng học thuật”.22

10. Luật tục, bon/làng và tổ chức xã hội

Một trong những đóng góp lớn nhất của tư liệu Dournes–Olsen là đưa luật tục Srê vào phân tích dân tộc–ngôn ngữ học. Tập Nri cho thấy trật tự xã hội được diễn đạt qua ngôn ngữ phán xử, bồi thường, trách nhiệm và quan hệ giữa người với đất. Olsen phân loại các mẩu phán quyết trong Nri thành các nhóm như hình phạt, trách nhiệm, chứng cứ, thử nghiệm và hợp đồng/thỏa thuận. Dữ liệu này giúp hiểu xã hội Srê không phải bằng mô hình bộ lạc chung chung, mà bằng các phạm trù pháp lý và đạo đức bản địa.23

Từ vựng của Nri cũng cho thấy Srê gắn chặt với đời sống ruộng nước và đất đai. Chính từ srê được giải thích trong phụ lục Olsen như ruộng lúa nước hoặc không gian thấp có tưới tiêu. Điều này giải thích vì sao trong nhiều tư liệu, Sre/Srê vừa là tên nhóm, vừa gắn với một hình thái kinh tế–cư trú khác với các nhóm du canh vùng cao. Nhưng một lần nữa, khác biệt kinh tế không nên bị biến thành hệ thống thứ bậc dân tộc; nó phải được đọc trong lịch sử sinh thái và cư trú.24

Nghiên cứu của Pham về Cil–K’Ho/Srê bổ sung cho luật tục một tầng hiện đại hơn: trong bon/làng, họ hàng, hôn nhân, ruộng đất và tôn giáo đều có thể tái định nghĩa ranh giới. Pham ghi nhận các cộng đồng Cil và K’Ho/Srê đều có tổ chức mẫu hệ, trong đó bon/làng thường gồm vài dòng họ và các nhà dài; nhưng sự tương đồng này không xóa bỏ những ranh giới ký ức, địa bàn và hôn nhân. Do đó, bài viết về tộc danh Kơho phải đồng thời nhìn thấy cái chung và cái riêng: chung ở họ hàng ngôn ngữ, cấu trúc xã hội và lịch sử cao nguyên; riêng ở ký ức bon, tên gọi địa phương và kinh nghiệm chiến tranh.25

11. Kết luận

Bài viết này viết lại vấn đề Kơho/Srê theo ba nguyên tắc. Thứ nhất, không dùng ma trận thuật toán hoặc phần trăm ước lượng khi không có bảng từ và phương pháp công bố. Thứ hai, ưu tiên tư liệu có thể kiểm tra: từ điển, luật tục, ngữ pháp, báo cáo dân tộc học, điền dã địa phương và số liệu cụ thể. Thứ ba, đọc mọi tên gọi trong lịch sử sử dụng của nó: ai dùng, dùng cho ai, ở thời điểm nào, trong hoàn cảnh quyền lực nào.

Từ các nguồn Pháp, Bắc Mỹ và nghiên cứu sau chiến tranh, có thể kết luận rằng Kơho/Srê là một trường định danh phức tạp thuộc không gian South Bahnaric ở Nam Tây Nguyên. Sre/Srê là biến thể được mô tả kỹ và có uy tín lịch sử; Cil/Chil, Lach/Lat, Nop, Tring, Kơyon/Co-Don, Pru, Rion, Talà và các tên địa phương khác không nên bị ép thành những cấp bậc cứng. Một số tên phản ánh phương ngữ, một số phản ánh vùng cư trú, một số phản ánh ký ức bon/làng, và một số được định hình bởi hành chính, truyền giáo, chiến tranh và tái định cư.

Những con số thật trong bài—số trang từ điển, số dân được ghi nhận, tỷ lệ đồng nguyên South Bahnaric, tỷ lệ từ vựng Chamic trong Srê, số hộ di cư, diện tích đất cấp, số tín hữu—không thay thế nhau. Chúng phục vụ các câu hỏi khác nhau. Chính việc tôn trọng giới hạn của từng loại số liệu mới làm nên chuẩn mực học thuật, đặc biệt trong một chủ đề dễ bị đơn giản hóa bởi nhãn hành chính và các bảng phân loại.

Tài liệu tham khảo

Bochet, Gilbert, and Jacques Dournes. Lexique polyglotte: Viêtnamien, köho, röglai, français. Saigon: France-Asie, 1953.

Condominas, Georges. We Have Eaten the Forest: The Story of a Montagnard Village in the Central Highlands of Vietnam. Translated by Adrienne Foulke. New York: Hill and Wang, 1977.

Dournes, Jacques. Dictionnaire sré (köho)-français. Saigon: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1950.

Dournes, Jacques. Nri: Recueil des coutumes Srê du Haut Donnai. Saigon: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1951.

Drouin, Sylvère, and K’Năi. Dictionnaire français-montagnard (Köho). 4 vols. Dalat, 1962. Mimeographed.

Hammarström, Harald, Robert Forkel, Martin Haspelmath, and Sebastian Bank, eds. Glottolog 5.2: Koho. Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology, 2025.

Hickey, Gerald Cannon. The Highland People of South Vietnam: Social and Economic Development. Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1967.

Hickey, Gerald Cannon. The Major Ethnic Groups of the South Vietnamese Highlands. Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1964.

LeBar, Frank M., Gerald C. Hickey, and John K. Musgrave. Ethnic Groups of Mainland Southeast Asia. New Haven: Human Relations Area Files Press, 1964.

Manley, Timothy M. Outline of Sre Structure. Honolulu: University of Hawaiʻi Press, 1972.

Olsen, Neil H. A Descriptive Grammar of Kơho-Sre: A Mon-Khmer Language. PhD diss., University of Utah, 2014.

Olsen, Neil H. “An Ethnolinguistic Analysis of Customary Law in a Vietnamese Ethnic Minority (Kơho-Sre).” Cultural and Religious Studies 8, no. 11 (2020): 594–602.

Olsen, Neil H. “Kơho-Sre.” In The Handbook of Austroasiatic Languages, edited by Mathias Jenny and Paul Sidwell, 746–788. Leiden: Brill, 2015.

Pham Thanh Thoi. “The Making of Ethnic Boundaries between the CIL and the K’HO (SRE) in Ninh Gia Commune, Duc Trong District, Lam Dong Province, Vietnam.” Ho Chi Minh City Open University Journal of Science—Social Sciences 2, no. 1 (2012): 19–35.

Sidwell, Paul. Proto South Bahnaric: A Reconstruction of a Mon-Khmer Language of Indo-China. Canberra: Pacific Linguistics, 2000.

Smalley, William A. “A Problem in Orthography Preparation.” Language 30, no. 2 (1954): 216–222.

Smalley, William A. “Srê Phonemes and Syllables.” Journal of the American Oriental Society 74, no. 4 (1954): 217–222.

1 Neil H. Olsen, A Descriptive Grammar of Kơho-Sre: A Mon-Khmer Language (PhD diss., University of Utah, 2014), 1–2.

2 Jacques Dournes, Dictionnaire sré (köho)-français (Saigon: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1950), I–XXX, 1–269; Gilbert Bochet and Jacques Dournes, Lexique polyglotte: Viêtnamien, köho, röglai, français (Saigon: France-Asie, 1953); Jacques Dournes, Nri: Recueil des coutumes Srê du Haut Donnai (Saigon: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1951); Neil H. Olsen, “An Ethnolinguistic Analysis of Customary Law in a Vietnamese Ethnic Minority (Kơho-Sre),” Cultural and Religious Studies 8, no. 11 (2020): 594–602; Sylvère Drouin and K’Năi, Dictionnaire français-montagnard (Köho), 4 vols. (Dalat, 1962), mimeographed; Gerald Cannon Hickey, The Major Ethnic Groups of the South Vietnamese Highlands (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1964); Gerald Cannon Hickey, The Highland People of South Vietnam: Social and Economic Development (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1967).

3 Jacques Dournes, Nri: Recueil des coutumes Srê du Haut Donnai (Saigon: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1951); Neil H. Olsen, “An Ethnolinguistic Analysis of Customary Law in a Vietnamese Ethnic Minority (Kơho-Sre),” Cultural and Religious Studies 8, no. 11 (2020): 594–602.

4 William A. Smalley, “A Problem in Orthography Preparation,” Language 30, no. 2 (1954): 216–222; Smalley, “Srê Phonemes and Syllables,” Journal of the American Oriental Society 74, no. 4 (1954): 217–222; Timothy M. Manley, Outline of Sre Structure (Honolulu: University of Hawaiʻi Press, 1972); Gerald Cannon Hickey, The Major Ethnic Groups of the South Vietnamese Highlands (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1964); Hickey, The Highland People of South Vietnam: Social and Economic Development (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1967).

5 William A. Smalley, “A Problem in Orthography Preparation,” Language 30, no. 2 (1954): 216–222; Smalley, “Srê Phonemes and Syllables,” Journal of the American Oriental Society 74, no. 4 (1954): 217–222; Timothy M. Manley, Outline of Sre Structure (Honolulu: University of Hawaiʻi Press, 1972); Gerald Cannon Hickey, The Major Ethnic Groups of the South Vietnamese Highlands (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1964); Hickey, The Highland People of South Vietnam: Social and Economic Development (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1967); Harald Hammarström, Robert Forkel, Martin Haspelmath, and Sebastian Bank, eds., Glottolog 5.2: Koho (Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology, 2025).

6 Olsen, Descriptive Grammar, 11; Paul Sidwell, Proto South Bahnaric: A Reconstruction of a Mon-Khmer Language of Indo-China (Canberra: Pacific Linguistics, 2000).

7 Olsen, Descriptive Grammar, 10–11. Olsen reports that Kơho is very likely an exonym ultimately associated with a Cham term, and that it came to be used for several mutually intelligible speech communities.

8 Olsen, Descriptive Grammar, 11–12. Olsen summarizes earlier comparative work by Thomas and others and notes that Chrau, Kơho, Mnong, and Stieng share roughly sixty percent cognate basic vocabulary.

9 Harald Hammarström, Robert Forkel, Martin Haspelmath, and Sebastian Bank, eds., Glottolog 5.2: Koho (Leipzig: Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology, 2025).

10 Olsen, Descriptive Grammar, 15–17.

11 Olsen, Descriptive Grammar, 15–17.

12 Olsen, Descriptive Grammar, 15–17.

13 Jacques Dournes, Dictionnaire sré (köho)-français (Saigon: Imprimerie d’Extrême-Orient, 1950), I–XXX, 1–269; Gilbert Bochet and Jacques Dournes, Lexique polyglotte: Viêtnamien, köho, röglai, français (Saigon: France-Asie, 1953).

14 Olsen, “Ethnolinguistic Analysis,” 595–98; Olsen, “Ethnolinguistic Analysis,” 600–602.

15 Timothy M. Manley, Outline of Sre Structure (Honolulu: University of Hawaiʻi Press, 1972); William A. Smalley, “Srê Phonemes and Syllables,” Journal of the American Oriental Society 74, no. 4 (1954): 217–222; Smalley, “A Problem in Orthography Preparation,” 216–222; Smalley, “Srê Phonemes and Syllables,” 217–222; Gerald Cannon Hickey, The Major Ethnic Groups of the South Vietnamese Highlands (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1964); Gerald Cannon Hickey, The Highland People of South Vietnam: Social and Economic Development (Santa Monica, CA: RAND Corporation, 1967).

16 Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 20–21.

17 Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 21–22.

18 Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 25–27.

19 Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 27–28; Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 33–34.

20 Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 28–30; Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 30–31; Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 33–34.

21 Olsen, Descriptive Grammar, 14–15. Olsen reports that about twenty percent of the Sre lexicon he examined is cognate with Chamic forms, especially in domains such as kinship, politics, agriculture, and material life.

22 Olsen, Descriptive Grammar, 14–18; Neil H. Olsen, “Kơho-Sre,” in The Handbook of Austroasiatic Languages, ed. Mathias Jenny and Paul Sidwell, 2 vols. (Leiden: Brill, 2015), 746–788; Olsen, Descriptive Grammar, 14–18; Olsen, “Kơho-Sre,” in The Handbook of Austroasiatic Languages, ed. Mathias Jenny and Paul Sidwell (Leiden: Brill, 2015), 746–788; Manley, Outline of Sre Structure; Smalley, “Srê Phonemes and Syllables.”.

23 Olsen, “Ethnolinguistic Analysis,” 595–98.

24 Olsen, “Ethnolinguistic Analysis,” 600–602.

25 Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 20–21; Pham Thanh Thoi, “Making of Ethnic Boundaries,” 27–28.

Chia sẻ

Bình luận

0
Chưa có bình luận.

Các bài viết khác

Đang tải bài viết...

Sách văn hóa bản xứ

Tin Công giáo mới nhất

Đang tải tin mới...

    Video mới nhất

    Danh sách video YouTube

    Mở YouTube

    Đang tải video...

    Danh sách phát YouTube
    Danh sách chờ phát Đang tải...
      Audio

      Đang kết nối dữ liệu...

      Đang lấy danh sách audio từ Archive.org

        Khám phá truyện kể thế giới

        Mở YouTube
        Đang tải danh sách video...