Giữa ngút ngàn rừng già Nam Tây Nguyên, nơi Dà Dờng huyền thoại cuộn chảy qua muôn ghềnh thác và rặng Lang Biang sừng sững tạc vào vòm trời cao vút, lịch sử của các tộc người bản địa không ghi tạc trên bia đá hay những trang thư tịch kiểu cung đình. Lịch sử ấy được cất giữ trọn vẹn trong hơi thở đại ngàn, qua tiếng cồng chiêng ngân nga và những câu văn vần Đơs Pơnđik lưu truyền bên bếp lửa nhà dài. Khi màn đêm buông xuống buôn làng, sương muối phủ mờ rẫy lúa và gió lạnh từ đỉnh non cao thổi về hun hút, bà con lại quây quần bên than hồng ấm áp. Bậc trưởng lão gìn giữ kho tàng ký ức (Kuang ƀòn, kra ƀòn) bước ra trước bàn thờ thần linh (jơnào Yàng) và hàng ché cổ gia tiên (drăp me), trang nghiêm cử hành nghi thức tưới than (crùh chah) linh thiêng rồi cất giọng tơmpràn trầm bổng khai mở sử thi:
Ngai
do mô tềng do, bol he
Rơgùm bal bồ be ka tam kră
Rơgùm
bal să be kòi tam tông
Rơgùm bal jông be rôpu tam
wàng
Rôlàng bal bịng be cing tam sah...
Hôm
nay và nơi đây, chúng ta quy tụ chung đầu như cá trong
hốc cây,
Quy tụ chung mình như lúa trong bồ cót, tụ
họp chung chân như trâu trong chuồng trại,
Lồng khít
chung mép như những chiếc chiêng nằm êm trong gùi giỏ...
Lời mộc mạc mà linh thiêng ấy tựa sợi dây kết nối hiện tại với muôn thế hệ tiền nhân. Hình ảnh đàn cá nép mình trong hốc đá, hạt lúa ken chặt trong bồ và bộ chiêng lồng khít trong gùi là biểu tượng tuyệt mỹ cho tinh thần cố kết cộng đồng của người miền núi. Đó không phải là lời tụ họp đơn thuần, mà là sự trở về của toàn thể giống nòi. Tiếng cồng ba, chiêng sáu cùng khèn bầu trỗi dậy giục giã, mở đường cho thiên sử thi Gơ Plom Kòn Yồi – bức tranh kỳ vĩ phác họa diện mạo lịch sử, thiết chế buôn làng và cội nguồn sâu thẳm của hai tộc người anh em K'Ho và Mạ.
Thuở hỗn mang khai thiên lập địa và tiếng phán sáng tạo của Ndu
Trong ký ức xa xăm của các bậc già làng, trước khi cây rừng đâm chồi và những mái nhà dài mọc lên thành buôn thành nóc, vũ trụ là cõi hỗn mang tăm tối. Nước bao phủ mặt đất lầy lội, trời đất chưa phân định ranh giới, vạn vật chìm trong u minh tịch mịch. Giữa cõi hoang sơ ấy, Đấng Sáng Tạo tối cao – Ndu – đã ra tay thi thố quyền năng. Ngài xẻ núi ngăn sông, khơi thông dòng chảy tạo nên Dà Dờng, Dà R'nga, đắp đất thành cao nguyên trập trùng. Và tuyệt đỉnh của công trình tạo tác kỳ vĩ là khi Ndu cúi xuống bờ suối vắng nặn nên con người đầu tiên từ nắm đất sét nguyên sơ:
Yàng
tơng sò, Yàng crò swàn.
Yàng neh ôm tam añ bơh tam
tăp
Yàng neh grăp tam añ bơh tam sò
Yàng neh crò
tam añ bơh tam swàn
Yàng neh tàm tam añ bơh tam
ndul...
Yàng
nặn nên hình hài thể xác, Yàng phú bẩm linh hồn sống
động.
Yàng đã ở trong tôi từ thuở còn trong bọc
trứng, nắn tạo hình hài thể xác tôi,
Hà hơi ban
sinh khí cho linh hồn tôi, đặt để mối dây thiêng liêng
nơi rốn tôi...
Thần thoại khởi nguyên Yal yau khẳng định: con người không sinh ra từ cát bụi vô tình, mà được tạo tác bởi bàn tay nâng niu và hơi thở sinh khí của Đấng Tạo Hóa. Khi nắm đất sét bờ suối đón nhận hơi thở của Ndu, đất mở mắt, đất đứng dậy và đất cất tiếng nói. Đấng Tối Cao còn trao ban cho con người mọi năng quyền thiêng liêng để sinh tồn và làm chủ hoàn cảnh:
Yàng
neh cih dơ jơng añ / Làng añ in rơgơi lòt brê
Yàng neh
cih dơ tê añ / Làng añ in rơgơi lơh kòi
Yàng neh cih
dơ bơr añ / Làng añ in rơgơi hòi Yàng
Yàng neh cih dơ
kàng añ / Làng añ in rơgơi đơs Prum.
Thần
vạch nơi chân tôi để cho tôi có thể đi rừng / Thần
ghi nơi tay tôi để cho tôi có thể làm lúa
Thần khắc
nơi miệng tôi để cho tôi có thể gọi Thần / Thần chạm
nơi hàm tôi để cho tôi có thể nói khôn ngoan.
Bốn câu vần cổ sơ ấy đúc kết trọn vẹn căn cước con người cao nguyên: đôi chân can trường vượt dốc mở đất, đôi tay cần mẫn gieo cấy lúa thơm, bờ môi thành kính dâng lời khấn nguyện tạ ơn thần linh, và miệng biết nói lẽ phải. Toàn bộ nếp sống quy tụ trong triết lý: 'Lôh kòi, hòi Yàng' – cần cù làm lúa để nuôi sống buôn làng và chí thành gọi Thần để giữ trọn đạo nghĩa làm người.
Cội nguồn Kòn Cau và mối dây huyết thống giữa hai người anh em K'Ho và Mạ
Dẫu ngày nay người Mạ và người K'Ho mang hai tên gọi riêng biệt, nhưng trong sử thi và tâm thức ngàn đời, họ luôn tự hào nhận mình là Kòn Cau. Trong ngữ hệ Môn-Khmer cổ, 'Kòn' nghĩa là con cái, dòng dõi; 'Cau' nghĩa là Con Người đích thực mang đầy đủ nhân phẩm, phân biệt tuyệt đối với giống loài muông thú nơi rừng sâu (phan brê). Tự xưng là Kòn Cau chính là lời khẳng định tư cách con người, biết yêu thương và gìn giữ trật tự xã hội. Đồng thời, họ còn là Kòn Poh – Con của Bảy, sinh sống tại tầng thứ bảy ở trung tâm vũ trụ, giữ nhịp cầu giao hòa giữa trời cao và đất mẹ. Khúc hát cội nguồn ngân vang da diết khẳng định mối dây huyết thống ruột thịt:
Bơh
kềng lĭk tơngai / Neh tam tề-lăm bal tŭs hơ do
Làng ơm
bal dùl lơ gar / Làng căr bal brê dùl bơrnoh
Làng boh
bal dà dùl cờnòng / Làng cĭk bal lòng dùl nrăng
Làng
pơ̆ bal băng dùl bơkào...
Sơntờm Kòn-cau he: Kòn dùl
me / Sre dùl pàng / Rơhàng dùl bàp
Kơnàp dùl bơrtul /
Ndung dùl bŏ / Sŏ njòng dùl bồ.
Từ
mé mặt trời mọc đã cùng dắt díu nhau tới đây, để
sinh sống chung một xứ sở,
Để tết bện chung chốn
ở một nơi, be đắp chung dòng nước, chụm chung củi một
khúc đoạn...
Khởi đầu Kòn Cau chúng mình: Con cái
cùng một mẹ, ruộng nương cùng một tổ, vườn tược
cùng một cha. Mối men cùng một ụ, lươn chạch cùng một
sình, mái tóc dài cùng chung một đầu.
Lời thơ cổ như bản trường ca di dân vĩ đại: từ mé mặt trời mọc hướng đông xa xăm, tổ tiên Kòn Cau đã cùng nhau dắt díu vượt đèo lội suối về định cư nơi miền đất Nam Tây Nguyên. Họ cùng chia nhau giọt nước suối mát lành, chụm chung thanh củi sưởi ấm đêm đông, sẻ chia từng đọt măng rừng ngọt bùi. Mối tình ruột thịt keo sơn như đàn mối chung ụ, lươn chạch chung sình lầy và sợi tóc dài chung một mái đầu. Về sau, người anh em Mạ sinh sống dọc hạ lưu và trung lưu Dà Dờng, gắn với nương rẫy đại ngàn, nghề đẽo thuyền độc mộc và bàn tay dệt thổ cẩm tinh xảo; người anh em K'Ho định cư trên các cao nguyên Di Linh và Lâm Viên mát lành, khai khẩn ruộng nước thung lũng (K'Ho Srê) hoặc săn thú nơi núi cao (K'Ho Chil, Lạch). Không gian cư trú dẫu có đổi thay, gốc mẹ Kòn Cau vẫn là cội rễ thiêng liêng vĩnh viễn không hề phai nhạt.
Ký ức về vương quốc Đại Đa cổ xưa và khúc bi ca dâu bể phân ly
Theo dòng kể sử thi, thuở tiền sử xa xăm, cộng đồng Kòn Cau từng trải qua thời kỳ hoàng kim rực rỡ, độc lập và tự chủ hoàn toàn trên dải đất Nam Tây Nguyên. Thời kỳ cực thịnh ấy được lưu giữ trong ký ức tiền nhân qua hình tượng kỳ vĩ: 'Jrê Bŭp' – Cây Đa Đại Thụ. Tựa bóng đa cổ thụ vươn cành che mát muôn buôn làng, xã hội Kòn Cau xưa kia là một thể thống nhất vững vàng. Thế nhưng, bánh xe lịch sử không ngừng chuyển dời; những cuộc xung đột, áp bức và xâm lấn từ bên ngoài tràn tới đã làm lung lay cây đại thụ ngàn năm, đẩy cộng đồng vào khúc bi ca dâu bể phân ly:
Bơnồ
òr nau he Jrê Bŭp sơl
Neh sơrlơ̆ he wơl Jrê Bàng
Neh
sơrlàng he wơl Jrê Tàp
Òp Jrê Dờng Jrê Phe
Me kòn
bàp pơrlơ̆ dĭ cau.
Jrê Bŭp lơgăr Kòn Pàng
Jrê
Bàng lơgăr Kòn Oh
Jrê Poh Tờm lơgăr Kòn Hền.
Thuở
xa xưa ngày trước, chúng ta đều là Đại Đa, đã lật
ngược chúng ta thành Trung Đa,
Đã quật ngã chúng ta
thành Tiểu Đa; Đa Cổ Thụ, Đa Tạp Nham biến thành rui
mè,
Con mẹ con cha đảo lộn thành tôi tớ người
ta.
Đại Đa là quốc gia Con Tổ (Kòn Pàng), Trung Đa
là lãnh thổ Con Em (Kòn Oh), Tiểu Đa là quê hương Con Nhỏ
(Kòn Hền).
Khúc ca bi tráng trích từ trường ca 'Tam hà tam hềr' lồng trong sử thi tựa tiếng than của lịch sử. Từ vị thế ngút ngàn của 'Đại Đa' (Jrê Bŭp), cộng đồng bị quật ngã thành 'Trung Đa' (Jrê Bàng) rồi co cụm thành 'Tiểu Đa' (Jrê Tàp). Cây gỗ thiêng đại thụ bị đẵn ngọn xẻ cành làm rui mè tạm bợ, con cái của các dòng họ tự do bị biến thành tôi đòi lệ thuộc. Sau biến cố ấy, cộng đồng phân tán thành ba địa hạt cội nguồn: đất Con Tổ (Kòn Pàng), đất Con Em (Kòn Oh) và đất Con Nhỏ (Kòn Hền). Dẫu nếm trải cảnh ngộ phân ly đau xót, ký ức Đại Đa vẫn không hề tàn lụi mà trở thành ngọn lửa âm ỉ cháy, nhắc nhở con cháu muôn đời về một thời vàng son kiêu hãnh của tổ tiên.
Người thủ lĩnh mang gậy quyền uy và mối bang giao thăng trầm với cõi bờ Prum
Giữa hoàn cảnh lịch sử đầy biến động ấy, sử thi làm nổi bật chân dung người anh hùng Gơ Tòng Kòn Tăc như một đóa hoa kiệt xuất của núi rừng. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống nhờ sự đùm bọc của người mẹ nuôi, Gơ Tòng sớm bộc lộ tư chất phi thường, mưu lược hơn người và am tường phong tục ngàn đời. Khi nhà vua xứ Prum (vương quốc Chăm-pa cổ) lên miền thượng du tìm kiếm bậc hiền tài trao quyền thống lĩnh cõi bờ, nhà vua đã mở hội thử thách muôn ngàn đinh tráng bản xứ lẫn quan tướng người Prum. Chàng trai mồ côi K'Ho nghèo khó ấy đã vượt qua mọi thử thách nghiệt ngã, xuất sắc bước lên nhận lấy cây gậy quyền uy đứng đầu lãnh thổ:
Añ
đơs do tàng gơs lơgar
Añ tăr do tàng gơs brơtŭs
Añ
mŭs do tàng gơs lồ mìr
Añ ăt gai twà / Añ ià gai
twào
Añ tui phàng dờng
Añ ăt cờnừng pwà / Añ
ià cờnừng Prum
Añ um dà lềng bơtau.
Tôi
có nói đây mới thành quốc gia, có châm đây mới thành
rẫy sẵn, có phát đây mới thành miếng nương,
Tôi
giữ gậy trách nhiệm, mang gậy khả năng, vác lấy bổn
phận lớn lao,
Tôi nắm trọng trách của người
trưởng tộc, gánh vác sứ mạng đối với người Prum,
tắm nước trong bầu rượu của vua quan.
Lời tuyên xướng hào hùng khẳng định bản lĩnh tự cường của người thủ lĩnh cao nguyên. Cây gậy trách nhiệm ('gai twà, gai twào') và hình ảnh 'bầu nước vua quan' phản ánh chân thực mối quan hệ bang giao láng giềng giữa cư dân Tây Nguyên và Champa cổ. Lịch sử từng ghi nhận những thời kỳ căng thẳng khi người bản địa phải chịu sưu thuế ruộng nương ('sre dia Prum') hay cống nạp lâm sản quý. Tuy nhiên, qua sử thi, Kòn Cau khẳng định tư thế tự chủ: họ học lấy sự khôn ngoan ('đơs Prum') của láng giềng để bảo vệ quyền tự trị buôn làng mình, biến cây gậy ủy thác thành ngọn cờ đoàn kết toàn thể các bộ tộc vùng cao.
Cuộc đăng trình xuyên qua ngàn buôn núi và dấu chân kết nối đại ngàn Kòn Cau
Gánh trên vai trọng trách của vị trưởng tộc tối cao, Gơ Tòng đã khởi xướng một cuộc đại đăng trình lịch sử – chuyến tuần du xuyên qua khắp các xứ sở của người K'Ho và người Mạ. Men theo con đường mòn ngàn đời nối từ đỉnh Ryông Tô xuôi về miền biển, vó ngựa của chàng in dấu qua từng buôn làng máu thịt: từ xứ Con Tổ (Kòn Pàng), Con Em (Kòn Oh), Con Nhỏ (Kòn Hền), qua buôn Lạch bên chân Lang Biang, qua Crồng, Nhoàng, Nộp, Njrềng, Rowlai, Jrah, Jrài, rồi tiến sâu vào các thủ phủ trù phú của người Mạ như Mạ Jro, Mạ Trôlăm, Mạ Chịp, Mạ Kin Drum... Tại mỗi điểm dừng chân, người thủ lĩnh lại cất lên lời răn dạy về trật tự xã hội và đạo lý sống chung thuận thảo:
Sur
geh gơna / Iăr geh gơnăp
He Kòn-cau geh kồñ geh pàng ăt
bồ
He kòn-cau geh Sơđèn ăt bồ
He Kòn-cau geh Yàng
ăt-bồ.
He kòn-cau ôm kis bal ring rịm
Sỡ phe sỡ
ring koh gơl / Phe bơnơl ring koh gùl
Boh mơ cùr ring tam
sề
Sơmbiăt kơnhề ring tam pà / Sơmbiăt kơnhà ring
tam tơng...
Heo
còn có thể thống, gà còn có trật tự, chúng ta Kòn Cau
có trưởng bối cầm đầu,
Có vị Trung gian cầm đầu,
có Thần linh cầm đầu.
Kòn Cau cùng sinh sống thuận
thảo, gạo một gùi cùng chia phần, gạo một giỏ cùng
sẻ đôi,
Muối và vôi đều cùng sớt, nhẫn hẹn ước
cùng thuận trao cho nhau, nhẫn thề nguyền cùng hợp chìa
cho nhau...
Những câu vần ngân nga khắc họa sinh động thiết chế xã hội cổ truyền Nam Tây Nguyên. Buôn làng vận hành theo một trật tự luân lý nghiêm cẩn: vạn vật đều có quy củ, con người sống dưới sự soi xét của Yàng, sự phân xử công minh của vị Trung gian thần linh (Sơrđèn) và sự dẫn dắt của các già làng đức độ (kồñ pàng). Nền tảng của cuộc sống cộng đồng là tình thương yêu, sẻ chia tuyệt đối: bát gạo chia đôi, hạt muối bẻ nửa, chiếc nhẫn thề nguyền trao tay và cửa nhà luôn rộng mở đón khách trăm phương. Chuyến đăng trình của Gơ Tòng đã đan dệt lại mạng lưới giao hảo giữa các dòng tộc K'Ho và Mạ, khơi dậy ý thức mãnh liệt về một mái nhà chung Kòn Cau bất khả phân ly.
Nàng Gơ Plom làng Tô Kơrla và vẻ đẹp của nếp nhà mẫu hệ muôn đời
Điểm dừng chân định mệnh và rực rỡ nhất trong cuộc đăng trình của chàng thủ lĩnh Gơ Tòng chính là buôn làng Tô Kơrla – quê hương của nàng thiếu nữ kiệt xuất Gơ Plom Kòn Yồi. Sử thi khắc họa nàng bằng những hình ảnh diễm lệ và tôn quý nhất: 'thắt đáy lưng ong, răng dài như muỗm', nết na, đoan trang mà mưu lược, tài trí hơn người. Khi Gơ Tòng ghé ngựa trước ngõ, Gơ Plom không vội vã đón tiếp mà lánh mặt sau vách nứa, chăm chú lắng nghe từng lời đối đáp ví von bóng bẩy của chàng với mẹ mình để thấu suốt tâm đức của người khách phương xa. Chỉ đến khi vị chủ làng xác tín chàng chính là bậc thủ lĩnh đức độ của toàn cõi thượng du, nàng mới đĩnh đạc bước ra nghênh tiếp bằng tất cả sự hòa nhã và tôn nghiêm.
Mối lương duyên kỳ ngộ giữa Gơ Tòng và Gơ Plom vượt lên trên câu chuyện tình tự đôi lứa thông thường để trở thành biểu tượng viên thành của lịch sử Kòn Cau. Nơi đây, chế độ mẫu hệ thuần khiết và nhân ái của người K'Ho tỏa sáng rực rỡ: người phụ nữ là rường cột của ngôi nhà dài, nắm giữ chìa khóa kho thóc, gìn giữ ngọn lửa thiêng và quyết định vận mệnh dòng họ. Dù mang cây gậy quyền uy đứng đầu lãnh thổ, Gơ Tòng vẫn nghiêng mình kính cẩn trước nếp nhà của người nữ, tuân thủ trọn vẹn tục hỏi cưới, đền bồi và kết ước theo luật tục Adat Bơhian. Hình tượng nàng Gơ Plom làng Tô Kơrla chính là hiện thân của Mẹ Đất bao dung, hiện thân của sức mạnh mềm dẻo nhưng bền bỉ đã che chở và nuôi dưỡng nòi giống K'Ho trường tồn qua muôn ngàn dâu bể.
Lời trăn trối của Mẹ Tổ Me Bò Me Bla và khát vọng hành hương về cội nguồn
Đỉnh cao bi tráng và linh thiêng nhất của sử thi kết tinh nơi hình tượng người Mẹ Tổ đầu tiên – Me Bò Me Bla (Mẹ Trắng, Mẹ Ngà), Đấng được ngợi ca là Me Klăc, Me Mòn (Mẹ Nắn, Mẹ Tạo). Bà là nguồn sữa mẹ nguyên sơ đã sinh thành và dưỡng dục dòng giống Kòn Cau từ thuở hồng hoang. Khi tuổi già sức cạn, trước lúc trút hơi thở cuối cùng để về với cõi vĩnh hằng, Mẹ Tổ đã tháo sợi dây chuyền trên cổ trao lại cho con trai Gơ Tòng và cất lời trăn trối thiết tha, dặn dò con cháu phải đưa di hài Mẹ về an táng nơi cội nguồn biển cả thuở ban sơ:
Ơ
kòn Tòng! / Lòt jun tě añ tam bồt dà lô / Lòt jun tě añ
tam tô dà-lềng
Lòt jun tě añ tŭs kềng lĭk tơngai /
Lòt jun tě añ tŭs anih ơn gai bơnah
Lòt jun tě añ tŭs
anih ơn mpàn trah / Lòt jun tě añ tŭs anih ơn sơbàn
nggui...
Tam hơ̆, tiah drĭk-ndre / Tam hơ̆, sre drĭk-ndràc
/ Tam hơ̆, tiah làc rơbòng
Tam hơ̆, tiah dà poh cờr /
Tam hơ̆, tiah mbòr poh bòng
Druh ngăn be càl tam hơ̆ /
Pàl ngăn be ồs tam hơ̆.
Này
con Tòng ơi! Hãy đem mẹ vào miền đảo nước xa, đưa mẹ
vào nguồn biển cả, dẫn mẹ tới mé mặt trời mọc,
Hãy
đem mẹ tới chỗ đặt cây gậy dành riêng, nơi đặt tấm
ván đẽo sẵn, chốn đặt ngai tòa ngự trị...
Nơi
đó, là miền đất vắng lặng thênh thang, chỗ đầy rẫy
khe nước, nơi có suối bảy nhánh, dòng nước bảy
ngọn,
Nơi lồng lộng gió thổi đại ngàn và rực rỡ
ánh lửa thiêng ấm áp.
Sau lời trăn trối, thân xác Mẹ Tổ tan hòa vào vũ trụ qua một cuộc hóa thân huyền diệu, biến thành nguồn sống vô tận nuôi dưỡng muôn đời con cháu Kòn Cau:
Me
Klăc, Me Mòn / Me klăc gơs kòn / Me mòn gơs bơnŭs
Me Bò
gơs ka / Me Bla gơs boh.
Koh Me bò gơs ka mồi / Sơndồi
Me Bò gơs ka màn
Jơrlŭ bơngàn ntìng Bơbla / Bìng gri
dờng gơltăng Bơbla
Gri mơ yăng sơnơm Bơbla /
Sơnơm-tơmba plai mặt Bơbla
Jơh koh khai bloh: Gơlĭk poh
Croh Kơrlòng / Gơlĭk poh Thòng Kơrlô / Gơlĭk poh Tô
Dà-lềng.
Mẹ
Nắn, Mẹ Tạo; Mẹ nắn thành người con, tạo thành con
người; Mẹ Trắng hóa cá mú, Mẹ Ngà hóa muối men.
Chặt
Mẹ Trắng ra hóa thành cá thơm ngon, bờ môi Mẹ Trắng
hóa ra cá mắm,
Tô bát ăn chính là xương cốt Mẹ
Ngà, chum ché lớn chính là đầu gối Mẹ Ngà,
Bình
hũ đựng men là bùa hộ mệnh của Mẹ, mọi thang thuốc
chữa lành là mật đắng của Mẹ,
Khi phân chia thân
xác Mẹ xong xuôi: sẽ hóa thành bảy nguồn Croh Kơrlòng,
bảy ngọn Thòng Kơrlô, bảy dòng biển lớn Tô Dà-lềng.
Lời thơ đạt đến tầm vóc vũ trụ luận kỳ vĩ: người Mẹ Tổ không mất đi mà hóa thân vào từng thớ đất ngọn cây, từng giọt nước nguồn và hạt muối mặn mòi nuôi sống buôn làng. Từng hạt cơm con ăn có xương cốt Mẹ, từng ngụm nước con uống có mồ hôi Mẹ, từng giọt rượu cần ủ men có đầu gối Mẹ và từng bài thuốc chữa bệnh chưng cất từ mật đắng của Mẹ. Lời trăn trối thiêng liêng giục giã con cháu hướng về 'mé mặt trời mọc', về nơi 'suối bảy nhánh, sông bảy ngọn' chính là lời nhắc nhở muôn đời rằng người K'Ho và người Mạ phải luôn hướng về cội nguồn nguyên thủy bên bờ biển đông.
Di vật ngàn xưa dưới nấm mộ cổ và ngọn lửa trường tồn của Kòn Cau
Chuyến hành hương tìm về nơi an táng Mẹ Tổ ban đầu của vợ chồng Gơ Tòng và Gơ Plom gặp muôn trùng trắc trở do cách trở rừng sâu đèo dốc. Phải đợi đến thế hệ kế tiếp, khi người con trai của họ là chàng thiếu niên Gô Tăc khôn lớn, chàng mới cùng cha mình hoàn tất được tâm nguyện thiêng liêng của tiền nhân. Vượt qua bao dốc đứng ghềnh sâu xuôi về mạn biển Phan Thiết, hai cha con đã tìm thấy nấm mộ cổ kính của Mẹ Tổ Me Bò Me Bla. Trở về mái nhà dài trong niềm hân hoan rạng rỡ, người con trai xúc động kể lại cho mẹ mình từng kỷ vật ngàn xưa vẫn còn nguyên vẹn:
Hi
neh tuês mô neh goê sơl
Ôi sơmpào mò găm / Ào sơmpoh
mò găm / Kơldung boh ñòng mò găm / Mbòng boh ñô mò găm
Gô
kờl bồ mò găm / Tơl bơta găm tơl iòl
Bơrnơng siăt
klŏ kơ bàp găm sơl / Bơlŏ tuh mặt kơ bàp găm sơl
Sơmbiăt
rŭ sai kơ bàp găm sơl / Kơrai cŏk sề kơ bàp găm
sơl...
Jơh ală phan hơ̆ găm sơl ai hă!
Chúng
con đã tới nơi và cũng đã tận mắt nhìn thấy:
Tấm
váy riêng của bà vẫn còn nguyên vẹn, chiếc áo riêng
của bà còn đấy, túi bị chuỗi hạt còn đấy, tô
thuyền uống nước còn đấy,
Chiếc sừng ngà gối
đầu của bà vẫn còn đấy, tất cả mọi thứ vẫn đầy
đủ như xưa,
Chiếc nồi đồng cắt rốn của cha
cũng vẫn còn, chiếc chén đồng rửa mặt của cha cũng
vẫn còn,
Chiếc lược bí chải tóc của cha vẫn còn,
nhựa cây chà răng của cha vẫn còn, nồi gội đầu, khăn
lau mặt của bà còn nguyên...
Tất cả mọi kỷ vật
ngàn xưa ấy vẫn còn vẹn nguyên nơi đó, mẹ ơi!
Khúc ca tìm thấy cội nguồn khép lại sử thi bằng niềm xúc động vô bờ và niềm tin bừng sáng. Nấm mồ cổ nơi mé mặt trời mọc không phải là dấu tích lụi tàn của sự chết chóc, mà là cột mốc vĩnh hằng chứng minh cội nguồn bất diệt của dòng giống Kòn Cau. Tấm váy thổ cẩm, chiếc áo chàm, chuỗi cườm ngũ sắc, chiếc sừng ngà gối đầu cho đến nồi đồng cắt rốn thuở lọt lòng... tất cả vẫn nguyên vẹn như minh chứng hùng hồn rằng lịch sử của người K'Ho và người Mạ chưa bao giờ đứt đoạn, bản sắc của họ chưa bao giờ bị hòa tan.
Bên bếp lửa nhà dài ngàn năm bập bùng giữa đại ngàn Nam Tây Nguyên, câu chuyện của già làng dần khép lại theo tàn than đỏ, nhưng dư âm trầm hùng của thiên sử thi Gơ Plom Kòn Yồi vẫn còn ngân vang mãi trong tiếng thông reo và dòng nước Dà Dờng cuộn sóng. Đó là bản trường ca bất tử về cội nguồn huyết thống thiêng liêng, về ký ức một thời vương quốc Đại Đa kiêu hãnh, về đạo lý sống thuận thảo chí tình và khát vọng trường tồn của Kòn Cau trên dải đất Tây Nguyên hùng vĩ.
