Niam să oh mi

Đang kết nối với già làng...

Câu chuyện về sính lễ nhà gái trao nhà trai của Kòn Cau

Câu chuyện về sính lễ nhà gái trao nhà trai của Kòn Cau

Chia sẻ
Đọc

Hỡi những đứa con của đại ngàn, hãy ngồi nán lại bên bếp lửa đang nổ lách tách, nhấp một ngụm rượu cần thưa thớt, để nghe gió ngàn kể lại câu chuyện của Kòn Cau từ thuở đá chưa mòn, suối chưa cạn. Ngày nay, ai đi qua những bản làng vắt vẻo trên sườn đồi, nấp mình dưới bóng cây cổ thụ, hẳn sẽ lấy làm lạ khi nghe kể về cái tục lệ hôn sự đầy thiêng liêng và cũng lắm kỳ trân: Tục con gái đi hỏi chồng, mang sính lễ đi "mua" đàn ông về làm rể. Đó không phải là một trò đùa của tạo hóa, cũng chẳng phải là luật lệ áp đặt ngẫu nhiên. Đó là cả một thiên sử thi đẫm máu và nước mắt, một hành trình sinh tồn kiên cường của Kòn Cau giữa những biến thiên dâu bể của lịch sử.

Ngày xửa ngày xưa, từ cái thuở hồng hoang khi Yàng mới nặn ra con người từ đất sét, Kòn Cau sống thuận theo lẽ tự nhiên. Bấy giờ, đàn ông Kòn Cau với sức vóc cường tráng, vai u thịt bắp, là những người làm chủ gia đình, làm chủ nương rẫy. Đàn ông cầm xà gạc đi phạt rừng, cầm giáo đi săn con nai, con lợn rừng. Đàn bà con gái thì ở nhà đan gùi, dệt vải, lấy nước. Con trai lớn lên đi bắt vợ, mang cô gái về nhà mình để sinh con đẻ cái, khói lửa nối dõi tông đường. Truyền thống ấy vững chãi như cây đa, cây đề giữa đại ngàn.

Thế nhưng, mây mù kéo đến che lấp đỉnh núi, gió chướng thổi thốc qua những thung lũng bình yên. Thời kỳ ấy, Kòn Cau sống kề cận với vương quốc Prum (Champa) hùng mạnh ở phía Đông. Những cuộc chiến tranh giành đất đai, những cuộc nội chiến và ngoại chiến của người Prum đã cuốn Kòn Cau vào vòng xoáy binh đao khói lửa. Giặc giã triền miên. Các bộ lạc Kòn Cau bị đô hộ, bị bắt phải chịu cảnh phu phen, nô dịch định kỳ. Những gã đàn ông Kòn Cau khỏe mạnh nhất, mang sức vóc của núi rừng, bị bắt phải rời khỏi buôn làng, vượt ngàn dặm xa xôi đi xây tháp, đi làm lính, đi phục dịch cho những cuộc chiến không phải của mình.

Đàn ông đi, mười người thì may ra mới có một người trở về. Làng bản vắng bóng những tấm lưng trần đẫm mồ hôi. Tiếng rìu chặt cây, tiếng rựa phát rẫy của những người cha, người chồng, người anh vắng bặt. Bếp lửa trong nhà dài tưởng chừng như sắp tàn lụi vì thiếu người nhen nhóm.

Giữa cái thời khắc sinh tử ấy, đàn bà Kòn Cau đã không chịu cúi đầu gục ngã. Khi nước mắt đã cạn, những người mẹ, người vợ, người chị lau khô hai gò má, cởi bỏ váy áo thướt tha, quấn lại nếp khố, cầm lấy chiếc xà gạc của chồng, của cha để lại mà tiến vào rừng sâu. Họ thay đàn ông đốn cây lớn, đốt rẫy, chọc lỗ tra hạt. Họ vác ná đi săn thú, bảo vệ buôn làng khỏi móng vuốt của cọp beo. Đêm về, cũng chính đôi bàn tay nứt nẻ ấy lại cẩn trọng sắp xếp lễ vật, thành tâm khấn vái, dâng rượu cần lên Yàng, lên tổ tiên để cầu mưa thuận gió hòa.

Ngày tháng thoi đưa, nỗi đau mất mát rèn giũa đàn bà Kòn Cau trở nên cứng cỏi như đá núi, dẻo dai như mây rừng. Mọi sự sống chết của bòn làng, mọi lo toan từ hạt lúa, hạt bắp đến chuyện cúng tế, đều do một tay người đàn bà gánh vác. Dần dần, người đàn bà trở thành trụ cột không thể thay thế. Quyền quyết định thuộc về họ. Dòng máu truyền lại mang tên người mẹ. Đứa trẻ sinh ra gọi họ mẹ. Gia sản, ruộng nương, ché cồng đều do người con gái thừa kế. Cái nôi mẫu hệ của Kòn Cau đã được hình thành từ trong máu lửa và nước mắt như thế đó.

Rồi những cuộc chiến cũng lùi xa. Đàn ông Kòn Cau lục tục trở về, nhưng buôn làng giờ đã mang một diện mạo khác. Trật tự mới đã được xác lập bởi công lao trời biển của những người mẹ, người bà. Người phụ nữ nắm giữ quyền làm chủ nương rẫy, làm chủ ngôi nhà dài. Nhưng để cày cuốc những mảnh nương rộng lớn, để làm những công việc nặng nhọc cần sức vóc lớn, đàn bà vẫn cần đến đàn ông.

Thế là từ đó, tục lệ con gái đi "bắt chồng", "mua chồng" ra đời. Khi một thiếu nữ Kòn Cau đến tuổi trăng tròn, biết dệt tấm thổ cẩm rực rỡ, biết ủ ché rượu cần thơm nức mũi, nàng sẽ để ý tìm một chàng trai khỏe mạnh, hiền lành trong những dịp lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới. Nàng ưng bụng ai, sẽ báo với gia đình. Nhà gái sẽ là người chủ động mang trầu cau, mang chuỗi hạt cườm sang nhà trai để dạm hỏi.

Bên nhà trai, khi nuôi được một đứa con trai lớn khôn, cường tráng, nay để nó đi ở rể, cống hiến sức lao động cho nhà gái, ắt hẳn phải có sự đền bù xứng đáng. Vì thế, nhà trai sẽ "thách cưới". Họ đòi hỏi sính lễ rất cao: Nào là những bộ cồng chiêng quý giá vang vọng sáu ngọn núi, nào là những ché rượu cổ cất giữ từ thời ông bà, nào là hàng chục con trâu đực béo tốt, cùng vô số vòng đồng, váy áo thổ cẩm. Đó là cái giá để "mua" một người đàn ông về làm chồng, làm cột cái cho gia đình vợ.

Sính lễ ấy không chỉ là của cải đổi chác phàm tục. Nó là biểu tượng của sự đền đáp công ơn dưỡng dục của cha mẹ chàng trai, là minh chứng cho sự giàu có, thế lực và khả năng vun vén của nhà gái. Nếu nhà gái nghèo, không đủ sính lễ, chàng rể vẫn có thể về nhà vợ, nhưng nhà gái sẽ mang một món nợ truyền đời, phải trả dần bằng sức lao động hoặc tài sản sau này.

Hôn sự của Kòn Cau diễn ra thiêng liêng lắm. Ông mai bà mối, gọi là Cơi ndràng, sẽ là người đứng ra thay mặt hai họ để nói những lời giao ước. Lời hứa hôn không chỉ là chuyện của hai người, mà là khế ước trước mặt Yàng, trước sự chứng giám của núi rừng và buôn làng. Trong ngày rước rể, ché rượu cần ngon nhất sẽ được khui ra. Nước suối trong ngần pha lẫn với rượu thiêng và máu của con vật hiến tế (gà hoặc heo) sẽ được bôi lên chân của đôi trẻ. Đó là dấu chỉ thánh hiến, là lời thề gắn kết máu thịt.

Từ khoảnh khắc đôi tân hôn chạm đầu vào nhau, cùng uống chung một cần rượu, người đàn ông chính thức thuộc về nhà vợ. Anh ta rời bỏ họ hàng mình, mang sức lực và tấm lòng để chăm lo cho nhà vợ, thờ cúng tổ tiên nhà vợ. Nếu sau này, người chồng phụ bạc, lười biếng hoặc ngoại tình, anh ta sẽ bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng, còn phải bồi thường những sính lễ nặng nề. Luật tục bảo vệ người phụ nữ tuyệt đối, bởi họ là người nắm giữ linh hồn của tổ ấm.

Tục mua chồng, bắt chồng ấy đã bám rễ sâu vào lòng đất đỏ bazan, trở thành nét văn hóa độc đáo và đáng tự hào của Kòn Cau. Nó nhắc nhở con cháu đời đời ghi nhớ về một thời kỳ gian lao, khi người phụ nữ bằng đôi vai gầy guộc đã đứng lên gánh vác cả một bầu trời, gìn giữ cho giống nòi Kòn Cau không bị diệt vong trước bão táp lịch sử.

Hỡi những người anh em đang ngồi quanh ché rượu hôm nay, khi nghe lại thiên sử thi này, chớ vội đem cái nhìn của người miền xuôi, của thế giới hiện đại mà phán xét. Đừng cho rằng "mua chồng" là chuyện đổi chác nực cười hay hạ thấp nam giới. Hãy nhìn sâu vào gốc rễ của đại ngàn, để thấy được tình yêu thương, sự trân trọng và tính nhân văn cao cả ẩn chứa trong từng luật tục. Tục "mua chồng" chính là tượng đài vĩ đại nhất tôn vinh sức mạnh, sự hy sinh và quyền uy của người mẹ, người vợ Kòn Cau - những người đã dệt nên sự sống từ trong cõi chết, giữ cho ngọn lửa bếp nhà rông mãi mãi cháy bùng rực rỡ.

 

Chia sẻ

Bình luận

0
Đang tải bình luận...

Viết bình luận

Các bài viết khác

Đang tải bài viết...

Tin Giáo Hội

Đang tải tin mới...

    Video Giáo phận

    Mở YouTube

    Đang tải video...

    Danh sách phát YouTube
    Danh sách chờ phát Đang tải...
      Âm thanh

      Đang kết nối dữ liệu...

      Đang lấy danh sách audio

        Truyện cổ thế giới

        Mở YouTube
        Đang tải danh sách video...